Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014

Bệnh thoái hóa khớp và hướng điều trị

Theo quy luật tự nhiên, cùng với thời gian, các tế bào sụn khớp sẽ già đi, khả năng tổng hợp chất tạo sụn giảm, rối loạn khiến tính chất đàn hồi và chịu lực yếu. Đây là lý do gây nên bệnh thoái hóa khớp ở người cao tuổi. Vì vậy cần phải đề phòng căn bệnh này ngay từ khi còn trẻ. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn một số thông tin phòng bệnh và hướng điều trị.

Bảo vệ khớp ngay từ khi còn trẻ


Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi ở lứa tuổi ngoài 40, bạn cần tập thể dục đều đặn và cố tránh bị béo phì, tiểu đường. Bởi thường gặp ở những người mắc bệnh này. Bạn cũng nên chú ý tránh những động tác quá mạnh, nhất là động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống.

Rèn luyện thường xuyên rất tốt cho sức khỏe người cao tuổi


Trong chế độ ăn, bạn nên lưu ý những điểm sau: hạn chế đồ uống có cồn, tránh ăn thực phẩm có hàm lượng purin và fuctozo cao như cá trích, thịt gia súc, gan và thịt lợn muối, các món ăn dễ làm tăng mỡ trong máu gồm thịt mỡ, bơ, xúc xích... Trái lại, bạn nên ăn bổ sung thêm thực phẩm có chứa acid omega -3, giàu vitamin và khoáng chất...
Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động, bạn phải điều trị ngay. Trước đây người ta chủ yếu dùng các thuốc giảm đau, chống viêm giảm đau để làm giảm triệu chứng đau và viêm cho người bệnh. Điều đó là chữa triệu chứng chứ chưa phải chữa nguyên nhân gây bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ, có những loại thuốc chữa bệnh tận gốc chứ không dừng lại ở chữa triệu chứng.

Giải pháp cho bệnh thoái hóa khớp hiện nay


 Hiện nay, xu hướng đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng lựa chọn là dùng các loại thuốc thảo dược đắp ngoài da để điều trị thoái hóa khớp. So với các thuốc thường dùng trong điều trị thoái hóa khớp qua đường uống hoặc tiêm (nhóm thuốc giảm đau chống viêm không steroid, nhóm corticoid,...) thì thuốc thảo dược đắp ngoài da cũng có tác dụng giảm sưng, giảm đau tương tự nhưng không gây tác dụng phụ toàn thân như: loét dạ dày, loãng xương, suy gan, thận… khi dùng lâu dài. Trong trường hợp nặng, việc dùng thuốc đắp ngoài da cũng ít tốn kém hơn so với biện pháp phẫu thuật hoặc thay khớp, đồng thời vẫn có tác dụng giảm đau nhanh, mạnh và bền vững.

 Sản phẩm nổi bật cho xu hướng trên và đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học hiện nay là thuốc đắp ngoài Cốt Thống Linh. Với thành phần chính là cây ô đầu (Vân Nam, Trung Quốc) có tác dụng giảm đau, chống viêm kết hợp cùng nhiều thảo dược khác như: huyết kiệt, nhũ hương, băng phiến,… Cốt Thống Linh giúp lưu thông máu, giãn mao mạch, giảm sưng, giảm đau nhanh, điều trị thoái hóa khớp hiệu quả. Do có thành phần là thảo dược và dưới dạng thuốc đắp ngoài da nên Cốt Thống Linh đã khắc phục được hầu hết những nhược điểm của các thuốc điều trị thoái hóa khớp nguồn gốc hóa dược.

 Theo các chuyên gia, bên cạnh việc duy trì dùng thuốc đắp ngoài Cốt Thống Linh, người bệnh cần tập luyện, vận động đúng mức, giữ cân nặng hợp lý và tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ để đẩy lùi những cơn đau, làm chậm sự tiến triển của thoái hóa khớp.




Sưu tầm bởi bệnh viện fv

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

Điều trị bàn chân khoèo ở trẻ em

 Bàn chân khòe là một dị tật bẩm sinh, có tính di truyền, hay gặp nhất ở trẻ em. Nếu trẻ gặp phải tình trạng này thì nên đưa đến các bệnh viện chấn thương chỉnh hình để điều trị càng sớm càng tốt. Trên thế giới, cứ 1000 trẻ được sinh ra thì có một trẻ bị dị tật bàn chân khòeo. Tại Việt Nam, dị tật bàn chân khoèo gặp rất phổ biến, đặc biệt trẻ em ở các tỉnh vùng cao. Biến dạng điển hình của bàn chân khoèo là: phần trước bàn chân bị khép; gót và phần sau bàn chân vẹo trong; bàn chân duỗi đổ kiểu bàn chân ngựa; vòm gan chân lõm.

1. Nguyên nhân: chưa rõ ràng, có nhiều giả thuyết

Bất thường về gen => mang tính di truyền.

Tư thế bàn chân thời kỳ bào thai bất thường.

Đột biến nhiễm sắc thể: trẻ bị cứng đa khớp bẩm sinh (bàn chân khoèo, cứng khớp gối, cứng khớp khuỷu, cứng khớp vai, trật khớp háng…).

Bất thường về cấu trúc xương bàn chân, về thần kinh chi phối bàn chân…

2. Lâm sàng.

Ngay mới sinh, bàn chân biến dạng: nửa sau bàn chân duỗi đổ và lật ngửa vào trong. Teo cơ vùng bắp chân. Ba biến dạng cơ bản của bàn chân khoèo là bàn chân duỗi đổ, vẹo trong và khép.

Da bàn chân thường căng mỏng ở phía gan chân, dầy lên ở phía bờ ngoài và mu chân.

Khi dị tật hai chân thì biến dạng ít khi giống nhau. Khi đứa trẻ lớn lên sẽ đi bằng bờ ngoài của bàn chân, tỳ lên thân và nền đốt bàn 5, bị nặng trẻ đi bằng mu chân. Chỗ tỳ mới sẽ dày lên thành chai sẹo và có tùi nhầy. Khi đi, chân bị xoay ngoài.

3. Dấu hiệu trên X quang.

Trên phim chụp bàn chân thẳng và nghiêng, tập trung vào xương sên và xương gót cho biết mức độ nặng của bệnh.

Trên phim thẳng và phim nghiêng thấy trục dọc của xương sên và xương gót song song hoặc xu thế song song với nhau (bình thường hai trục này tạo một góc 30-35 độ mở ra trước khi chụp thẳng và 20 độ khi chụp nghiêng).

Ngoài ra còn thấy trật nhẹ khớp sên gót, sên thuyền, thân xương sên duỗi đổ. Nếu biến dạng lâu năm, xương đốt bàn cong vẹo vào trong.

4. Điều trị

Mục đích của điều trị không phải là hình dáng bên ngoài của bàn chân mà là lập lại quan hệ bình thường về xương

Điều trị bàn chân khòeo theo từng giai đoạn, phụ thuộc vào tuổi

• Điều trị bảo tồn:

Đối với trẻ sơ sinh và cho con bú: nắn ngay sau khi trẻ chào đời

Nắn chỉnh (bớt ngửa, bớt đổ) và bó bột dưới gối. Mỗi ngày chỉnh một ít và thay bột trong tuần đầu, những tuần sau thưa dần. Không để bột quá 15 ngày vì trẻ còn lớn. Khi trẻ lớn lên cho đi dày chỉnh hình.

• Mổ chỉnh hình: Chỉ định khi điều trì bảo tồn thất bại. Thời điểm mổ: tối thiểu trẻ trên 3 tháng tuổi, nặng trên 6kg.

Các thủ thuật can thiệp trên phân mền, bao gồm:

‒ Kép dài gân Achille

‒ Giải phóng bao khớp chầy sên và sên gót.

‒ Kéo dài gân gấp ngón cái, cắt gân gấp các ngón

‒ Cắt cân gan chân

‒ Chuyển gân

Sau thủ thuật, bó bột trong thời gian 3-4 tuần

Các phẫu thuật can thiệp trên xương:

Trong trường hợp biến dạng nặng, can thiệp phần mềm chưa đủ, cần can thiệp cả phần xương.
Nên can thiệp về xương khi trẻ lớn trên 12 tuổi.

‒ Nạo xương xốp ở xương sên

‒ Đục hình chêm cổ xương sên

‒ Đục hình chêm mắt cá ngoài và xương gót

‒ Đục hình chêm nền các đốt bàn

‒ Đục hình chêm qua khớp gót hộp và sên thuyền

‒ Đục xương chữa xoay xương chầy


Sau đục xương cố định bằng đinh Kirschner, và bó bột trong vòng 5-6 tháng.

Sưu tầm bởi các bác sỹ từ Bệnh viện FV

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Bệnh thoái hóa khớp vai và cách khắc phục



Bệnh thoái hóa khớp vai gây nhiều khó chịu và ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của người bệnh, cần đi khám để phát hiện và điều trị sớm để tránh những tổn thương nghiêm trọng khác.

1. Cấu tạo của khớp vai

Khớp vai bao gồm 5 khớp nhỏ : khớp vai chính, khớp mỏm cùng cánh tay, khớp mỏm cùng xương đòn, khớp ức đòn và cuối cùng là khớp bả vai- lồng ngực.

Khớp vai liên kết các rễ thần kinh ở vùng cổ với phần trên lưng cũng như liên quan tới các hạch giao cảm cổ. Khi vùng đốt sống cổ, lồng ngực hay vùng trung thất bị tổn thương có thể gây ra các bệnh ở khớp vai như: co thắt bao khớp, viêm bao khớp, viêm gân sẽ gây đau đớn cũng như sẽ hạn chế các vận động ở khớp vai.

 Chóp xoay gồm có 4 loại gân bao quanh khớp vai giúp vai có khả năng vận động. Các gân này rất dễ bị viêm, gây đau ở những người trong độ tuổi trung niên và cao niên. Nguyên nhân được xác định là do thoái hoá hay thiếu máu nuôi và cả việc sữ dụng cánh tay quá nhiều. Nhất là các sợi gân trên và dưới gai có vùng thiểu dưỡng rất dễ bị rách và viêm có thể kéo theo bị viêm khoang dưới mỏm cùng vai. Thoái hoá khớp vai là do bệnh viêm khớp, phong thấp hay loãng xương.

2. Triệu chứng thoái hoá khớp vai

Nguyên nhân gây ra việc đau bả vai và lan tới cả bàn tay hay thậm chí là ngón tay là do đốt sống cổ bị thoái hoá. Triệu chứng là đau nhiều lúc về đêm hay đau nếu tư thế ngủ nằm nghiêng bên vai bị đau, đau khi giơ thẳng tay lên trời hay cũng có thể đau 1 khoảnh khắc nào đó khi hoạt động tay nhưng sau đó lại hết.

Việc đi khám ở Bệnh viện FV có thể giúp bệnh nhân xác định được các tổn thương, viêm hoặc bị rách chóp xoay và các bác sĩ có thể đánh giá được sức cơ khi khám. Chụp X quang có thể giúp bệnh nhân xem được các gai xương ở mỏm cùng vai. Việc chụp MRI có thể chẩn đoán được chính xác tình trạng rách gân hay viêm.

 3. Phương pháp khắc phục thoái hoá khớp vai

Khi gân chỉ bị viêm, bệnh nhân có thể chọn phương pháp điều trị bằng thuốc hoặc có thể sử dụng biện pháp vật lý trị liệu. Còn nếu gân bị đứt hoàn toàn thì việc điều trị nội khoa khả năng thành công là rất thấp. bệnh nhân cần phải đi khâu lại để có thể hồi phục sức cơ càng sớm càng tốt để không bị rơi vào trường hợp thoái hoá mỡ ở cơ do gân không hoạt động được vì bị đứt.

Hiện nay, việc khâu gân chóp xoay đã được thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp nội soi. Phương pháp này giúp bệnh nhân cảm thấy ít đau đớn hơn sau khi mổ cũng như việc hồi phục cũng nhanh chóng hơn. Lượng sụn và dịch ở khớp giảm nhiều khiến cho hai đầu xương tại khớp sẽ tiếp xúc nhau khi vận động sẽ gây ra các chứng viêm khớp, đau khớp và cuối cùng là dẫn đến thoái hoá khớp. người bị thoái hoá khớp vai cần phải bổ sung lượng dịch trong khớp đồng thời tái tạo lượng sụn cần thiết cho khớp là cách tốt nhất để giải quyết tận gốc bệnh thoái hoá khớp vai.

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Nguyên nhân của bệnh đau khớp gối

Trong chúng ta hầu hết ai cũng từng bị đau khớp gối, đây là căn bệnh phổ biến ở mọi lứa tuổi. Bệnh xảy ra khi có những thương tổn ở vùng đầu gối khiến các cơ xương khớp vùng đầu gối không thể hoạt động bình thường. Mặc dù là căn bệnh phổ biến nhưng liệu bạn có hiểu biết đúng về căn bệnh này hay chưa ?

Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đau khớp gối

Đau khớp gối có thể được gây ra bởi chấn thương, các vấn đề cơ khí, các loại viêm khớp và các vấn đề khác.

1. Do chấn thương

Một chấn thương đầu gối có thể ảnh hưởng đến bất kỳ các dây chằng, gân hoặc túi chứa đầy dịch (bursae) bao quanh khớp gối cũng như xương sụn và dây chằng các khớp riêng. Một số chấn thương đầu gối thường bao gồm:

ACL chấn thương : Chấn thương ACL là rách dây chằng cruciate trước (ACL) – một trong bốn dây chằng nối xương ống quyển đến xương đùi. Chấn thương ACL là đặc biệt phổ biến ở những người chơi bóng rổ hoặc đi trượt tuyết, bởi vì nó liên quan đến thay đổi đột ngột về hướng.

Rách sụn chêm (torn meniscus) : Sụn này được hình thành và hoạt động như một chất hấp thụ sốc giữa xương ống quyển và xương đùi. Nó có thể bị rách nếu đột nhiên xoay đầu gối trong khi mang trọng lượng trên nó.

Viêm bao hoạt dịch đầu gối (bursae):  Một số chấn thương đầu gối gây viêm ở bursae, các túi nhỏ của chất lỏng bên ngoài của đệm đầu gối để liên gân và dây chằng trượt trơn tru trên các khớp.

Viêm gân bánh chè:  Viêm gân là kích ứng và viêm của một hoặc nhiều dây chằng, dày sợi có gắn cơ bắp đến xương. Trượt tuyết và đi xe đạp dễ bị viêm gân bánh chè, nối các cơ bốn đầu trên mặt trước của đùi để xương ống quyển.

2. Các nguyên nhân khác

Vỡ xương, sụn. Đôi khi chấn thương hoặc thoái hóa của xương hoặc sụn có thể gây ra một mảnh xương hay sụn vỡ ra và trôi nổi trong không gian chung. Điều này có thể tạo ra bất kỳ vấn đề, trừ khi cơ thể mất cản trở chuyển động khớp gối.

Hạn chế khớp gối. Điều này có thể xảy ra từ một sụn rách. Khi một phần sụn vỡ bên trong khớp gối, không thể thẳng hết đầu gối.

Trật khớp xương bánh chè. Điều này xảy ra khi xương hình tam giác (xương bánh chè) bao gồm mặt trước của đầu gối phiếu trên, thường ra bên ngoài của đầu gối. Có thể xem lệch mạng và xương bánh chè có thể di chuyển quá nhiều từ phía bên.

Hông hay đau chân. Nếu có hông hay đau chân, có thể thay đổi cách đi bộ để phụ tùng các khớp đau đớn. Nhưng điều này thay đổi dáng đi có thể cản trở sự liên kết của xương bánh chè và diễn ra căng thẳng hơn vào khớp gối. Trong một số trường hợp, vấn đề ở hông hay bàn chân có thể đau đến đầu gối.

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Dấu hiệu bệnh thoái hóa khớp gối và cách điều trị

Khớp gối là khớp rất quan trọng, gánh toàn bộ cơ thể và là khớp vận động nhiều nhất chính vì thế nó rất dễ bị thoái hóa. Khi bị thoái hóa khớp gối người bệnh sẽ bị giảm chức năng sinh hoạt hằng ngày, gây khó khăn trong vận động, đi lại, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Vì thế cần phát hiện sớm bệnh để ngăn ngừa quá trình thoái hóa thêm, hạn chế tàn phế xảy ra.

1. Triệu chứng của bệnh thoái hoá khớp gối
Người bị bệnh thoái hoá khớp gối thường có cảm giác đau vùng khớp gối, lúc đầu đau nhẹ nhàng, đau chủ yếu về đêm.

Đôi khi cảm giác cứng khớp gối, nhất là sáng sớm lúc vừa ngủ dậy, sau một lúc đi lại nghỉ ngơi thấy đỡ đau hơn, thấy dễ chịu hơn.

Đau quanh khớp gối, đôi khi chỉ một vài điểm, đau tăng hơn khi đi lên cầu thang hoặc khi ngồi xổm xuống.
Có khi khớp gối bị sưng lên, chứa nhiều dịch bên trong mà nhiều người gọi là tràn dịch khớp. Nếu chọc hút thì đau sẽ giảm xuống nhưng mấy ngày sau khớp sưng trở lại.

Những trường hợp nặng khớp gối bị biến dạng vẹo vào trong, mà nhiều người gọi là chân vòng kiềng.
Người bệnh đi đứng rất đau, phải dùng khung hoặc nạng hổ trợ. Gập duỗi gối bị hạn chế.

2. Điều trị bệnh thoái hóa khớp gối bằng vật lý trị liệu
Điều trị vật lý trị liệu không chỉ giảm đau, giảm phù nề, tăng lực cơ, tăng tầm vận động khớp gối mà còn phục hồi các chức năng sinh hoạt hằng ngày của người bệnh.

Giảm đau, tăng tuần hoàn: chiếu đèn hồng ngoại, chườm nóng, chiếu thấu nhiệt vi sóng, điều trị bằng các dòng điện giảm đau (dòng Ten, dòng giao thoa…), sóng siêu âm giảm đau, kháng viêm, làm mềm tổ chức tổn thương xơ sẹo trong sâu, hướng dẫn sử dụng băng thun hoặc bó gối để cố định khớp gối khi đi lại, lên xuống cầu thang.

Huấn luyện cơ, tập mạnh các nhóm cơ gập duỗi khớp gối, các nhóm cơ gập duỗi dang áp khớp hông để hỗ trợ khớp gối tùy vào lực cơ người bệnh, gia tăng tầm vận động khớp gối, độ di động xương bánh chè: kỹ thuật P.N.F, tập đề kháng bằng tay, bằng tạ, dây thun co giãn, tập di động xương bánh chè, tập chịu sức, lên xuống cầu thang.

Với người bị thoái hóa khớp gối thì việc giảm cân, thay đổi lối sống như tránh ngồi xổm, tránh ngồi xếp bằng, hạn chế leo cầu thang hay leo dốc, hạn chế khiêng vác nặng là chuyện cần làm suốt đời. Có thể mang nẹp gối trong giai đoạn đang bị đau, nhưng sau đó cần phải tập cơ tứ đầu để có một khớp gối vững khi đi đứng, vì khi bị đau gối bao giờ cơ tứ đầu đùi cũng bị teo nhỏ.

Phòng trị bệnh thoái hóa khớp

Điều chỉnh cân nặng, tránh dư cân béo phì, bổ sung canxi, vitamin D và vitamin C vào khẩu phần ăn hàng ngày của người có tuổi, tránh mang vác sai tư thế để phòng bệnh thoái hóa khớp.

Thoái hóa khớp là bệnh lý khớp thường gặp nhất ở người lớn tuổi. Tại Mỹ tần suất thoái hóa khớp ở nữ trên 60 tuổi là 34% và nam 31%. Ở châu Á, tần suất tương tự cũng được ghi nhận, với 43% nữ và 21,5% nam trên 60 tuổi (Trung Quốc), 30% nữ và 11% nam trên 50 tuổi (Nhật).

Thoái hóa khớp là vấn đề y tế công cộng đang được xã hội rất quan tâm, vì quy mô lớn và hệ quả nghiêm trọng của bệnh trong cộng đồng. Thoái hóa khớp thường xảy ra ở người cao tuổi và trong tình hình tuổi thọ dân số ngày càng gia tăng, gánh nặng về thoái hóa khớp trong cộng đồng cũng sẽ gia tăng đáng kể trong tương lai.
Triệu chứng lâm sàng quan trọng và thường gặp của thoái hóa khớp là đau mãn tính. Đây chính là nguyên nhân làm bệnh nhân thoái hóa khớp bị giảm chất lượng cuộc sống nghiêm trọng cả về thể chất lẫn tinh thần. Hệ quả của thoái hóa khớp là mất chức năng vận động của khớp, trong đó thoái hóa khớp khớp gối là nguyên nhân hàng đầu của phẫu thuật thay khớp.

Ước tính tại Mỹ có khoảng 12% người trên 55 tuổi bị mất chức năng vận động do thoái hóa khớp khớp gối và hậu quả tương đương với những thiệt hại gây ra do bệnh lý tim mạch. Bên cạnh những chi phí trực tiếp cho điều trị thì chi phí cho sự mất ngày công lao động do bệnh tiến triển mãn tính, đã khiến thoái hóa khớp trở thành gánh nặng kinh tế ở các nước đã và đang phát triển.

Nguyên nhân gây bệnh thoái hóa khớp
Thoái hóa khớp là một bệnh phức tạp với đặc điểm chính của bệnh là tổn thương sụn khớp dẫn đến tổn thương toàn bộ cấu trúc khớp. Hiện nay, nguyên nhân chính xác của thoái hóa khớp vẫn chưa được xác định một cách rành mạch. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trong thời gian qua đã phát hiện một số yếu tố nguy cơ có liên quan đến thoái hóa khớp. Những yếu tố này có thể chia thành 2 nhóm chính là các yếu tố có thể can thiệp và các yếu tố không thể can thiệp

Yếu tố nguy cơ không thể can thiệp
Tuổi và giới tính: Có ảnh hưởng quan trọng đến tần suất thoái hóa khớp trong cộng đồng. Cả tần suất và tỷ suất mới mắc của thoái hóa khớp đều tăng 2 đến 10 lần ở độ tuổi 65 so với độ tuổi 30 và tiếp tục tăng nhanh sau đó. Ở những người dưới 50 tuổi, nam bị thoái hóa khớp nhiều hơn nữ, nhưng sau 50 tuổi nữ bị nhiều hơn nam và ảnh hưởng chủ yếu ở các khớp gối, bàn tay.

Tiền căn gia đình và di truyền: Thoái hóa khớp là bệnh có tính di truyền, biểu hiện qua hiện tượng bệnh có tính cách gia đình. Ở bệnh nhân có thoái hóa nhiều khớp hay thoái hóa khớp toàn thân thì không tìm thấy ảnh hưởng của yếu tố di truyền mà chủ yếu liên quan đến yếu tố tuổi.

Yếu tố nguy cơ có thể can thiệp
Béo phì: Là một trong những yếu tố nguy cơ toàn thân có ảnh hưởng quan trọng đến tần suất và diễn biến của bệnh thoái hóa khớp. Các kết quả nghiên cứu dịch tễ đều cho thấy béo phì (BMI > 30kg/m2) có mối liên hệ mật thiết với thoái hóa khớp ở mọi vị trí khớp, ngay cả những khớp nhỏ như bàn tay, và ảnh hưởng này thấy rõ ở nữ hơn là ở nam. Người béo phì có nguy cơ bị thoái hóa khớp cao hơn người không béo phì. Đồng thời béo phì còn làm tăng độ nặng của bệnh, và giảm cân nặng sẽ làm giảm nguy cơ tiến triển của bệnh.
Hormone: Tần suất thoái hóa khớp tăng nhanh sau tuổi mãn kinh. Thiếu estrogen ở nữ có thể là một yếu tố nguy cơ thoái hóa khớp.

Dinh dưỡng: Người có nồng độ vitamin D trong máu thấp có nguy cơ bị thoái hóa khớp tại khớp gối, khớp háng, đồng thời tăng tần suất mới mắc cũng như tiến triển của bệnh. Người có nồng độ vitamin C cao ít có nguy cơ tiến triển của thoái hóa khớp so với người có nồng độ vitamin C thấp.

Nghề nghiệp: Một số nghiên cứu trước đây cho thấy có mối tương quan giữa yếu tố nghề nghiệp, sử dụng khớp quá mức với tần suất thoái hóa khớp. Nông dân có nguy cơ thoái hóa khớp háng cao gấp 2 lần so với tần suất trung bình trong dân số.

Khoảng 30% các trường hợp thoái hóa khớp gối là do hoạt động nghề nghiệp có liên quan đến động tác gập gối, ngồi xổm, leo trèo. Nếu kèm thêm yếu tố khiêng vác nặng (trên 25kg), nguy cơ thoái hóa khớp gối sẽ tăng gấp 5 lần. Ở nam, thoái hóa khớp gối gắn kết với hoạt động leo cầu thang, lắc chân. Ở nữ, thoái hóa khớp gối gắn liền với những hoạt động phải đứng nhiều, còn thoái hóa khớp bàn tay liên quan với hoạt đông lắc bàn tay.

Hoạt động thể lực hàng ngày quá mức là yếu tố nguy cơ của thoái hóa khớp gối, và nguy cơ này tỷ lệ thuận với cường độ, thời gian hoạt động. Nữ trẻ tuổi hoặc trên 50 tuổi, nếu hoạt động thể lực nhiều sẽ tăng nguy cơ thoái hóa khớp gối khi lớn tuổi.

Yếu tố tại chỗ như chấn thương được xác định là yếu tố nguy cơ của thoái hóa khớp gối. Tại khớp gối, chấn thương được ghi nhận rõ nhất là rách dây chằng và hư hại sụn chêm. Nếu chấn thương này xảy ra ở vận động viên sẽ làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp ở người trẻ. Bên cạnh yếu tố chấn thương, dị dạng khớp gối cũng góp phần quan trọng làm tăng cả tần suất lẫn tiến triển của bệnh. Ngoài ra, các bệnh lý khớp viêm mãn tính như viêm khớp dạng thấp, gout cũng thúc đẩy nhanh quá trình thoái hoá khớp.

Phòng bệnh thoái hóa khớp
Thoái hóa khớp là một quá trình bệnh khó tránh khỏi ở người lớn tuổi, nhưng không phải ai cũng mắc bệnh ở tuổi già. Điều này cho thấy bệnh không phải là quá trình tất yếu của tuổi già, mà hàm ý rằng phòng bệnh đóng vai trò rất quan trọng vì có thể ngăn ngừa và hạn chế các yếu tố thúc đẩy quá trình thoái hóa, làm quá trình này xảy ra chậm hơn, muộn hơn và nhẹ hơn. Phòng ngừa bệnh thoái hóa khớp có thể tập trung vào việc giảm các yếu tố nguy cơ ở trên:

Điều chỉnh cân nặng ở trọng lượng lý tưởng, tránh dư cân béo phì.
Tránh các tư thế xấu trong sinh hoạt và lao động hàng ngày như động tác gập gối, ngồi xổm, leo trèo, đứng nhiều, lắc tay, bảo đảm vệ sinh và an toàn lao động để giảm các lực tỳ đè bất hợp lý lên sụn khớp.
Cố gắng tập thể dục hàng ngày và giữa các giờ lao động. Khi có tuổi, cần duy trì chế độ tập thể dục đều đặn, vừa sức, tốt nhất là đi xe đạp, đi bộ, bơi lội và tập dưỡng sinh...
Tránh các động tác quá mạnh, đột ngột, tránh sai tư thế khi mang vác nặng.
Phát hiện và điều trị sớm các dị tật, các di chứng của chấn thương, các bệnh lý tại khớp và cột sống.
Bảo đảm chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cân đối. Đặc biệt bổ sung canxi, vitamin D và vitamin C vào khẩu phần ăn hàng ngày của người có tuổi.

Điều trị thoái hóa khớp
Cho tới nay vẫn chưa có thuốc hiệu quả nhằm điều trị khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp. Điều trị chủ yếu nhằm mục đích giảm đau, duy trì vận động khớp và làm chậm tiến triển của bệnh. Các phương thức điều trị bao gồm nội khoa (dùng thuốc, không dùng thuốc) và ngoại khoa (phục hồi và thay khớp). Lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp cần dựa trên hoàn cảnh cụ thể của từng bệnh nhân, như tuổi, cân nặng, mức độ thoái hóa cũng như các bệnh kèm theo.

Trong đó, điều trị nội khoa không dùng thuốc có những điểm chủ yếu như:
- Biện pháp chung: Tránh cho khớp bị quá tải bởi lực đè quá mức bằng giảm cân, và giảm các vận động chịu tải như mang xách nặng, ngồi xếp bằng, quỳ gối, chạy nhảy, ngồi xuống đứng lên, ngồi xổm. Người bệnh cần điều chỉnh cách sống phù hợp, như lựa chọn nghề ít đi lại, ít chịu tải trọng, tìm các biện pháp cho người bệnh thích nghi với điều kiện làm việc, với sự trợ giúp của tổ chức y tế qua việc giáo dục, phổ biến kiến thức về bệnh thoái hóa khớp.

- Vật lý trị liệu: Bao gồm các biện pháp massage, kích thích cơ, châm cứu, tập vận động khớp và các biện pháp dùng nhiệt lượng như hồng ngoại, sóng ngắn, điện phân, nhiệt... có tác dụng giảm đau, có thể giúp điều chỉnh tư thế xấu, duy trì dinh dưỡng cơ và các mô cạnh khớp, giúp cải thiện chức năng vận động của khớp.
-  Dụng cụ chỉnh hình khớp: Mang nẹp khớp giúp giữ vững trục khớp và giảm đau. Trường hợp cần thiết, bệnh nhân có thể đi nạng 1 hoặc 2 bên.

Điều trị nội khoa dùng thuốc chú ý: 
Sử dụng các thuốc giảm đau thông thường như paracetamol hoặc paracetamol kết hợp codein. Đây là sự lựa chọn đầu tiên để sử dụng lâu dài, nếu có hiệu quả.

Khi không hiệu quả, có thể phối hợp thêm thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) toàn thân (uống hoặc tiêm), hoặc bôi tại chỗ. Tuy nhiên sự lạm dụng thuốc này sẽ dẫn đến nhiều tác dụng phụ tai hại như đau dạ dày, xuất huyết tiêu hóa. Vì vậy sử dụng loại thuốc gì, khi nào, bao lâu, liều lượng ra sao... nên cần có chỉ định của thầy thuốc, tùy thuộc vào cơ địa, độ nặng của bệnh, bệnh lý kèm theo và hoàn cảnh kinh tế của người bệnh. Các thuốc này khi dùng dài ngày, thường được khuyến cáo dùng kèm một loại thuốc bảo vệ dạ dày (thuốc ức chế bơm proton hoặc misoprostol).

Chích vào khớp là một biện pháp điều trị đặc biệt, do bác sĩ chuyên khoa khớp chỉ định, thực hiện và theo dõi tại những cơ sở y tế có đủ điều kiện kỹ thuật. Chích corticosteroid được chỉ định trong trường hợp viêm, tràn dịch khớp nặng, lưu ý phươg pháp này không sử dụng trong những trường hợp khớp bị thoái hóa nặng. Chích hyaluronic acid được chỉ định trong thay thế dịch khớp để bôi trơn và làm giảm đau, điều trị bảo tồn trong lúc chờ đợi thay khớp.

Thuốc làm chậm tiến triển của bệnh (slow-acting drugs for osteoarthritis hay SADOA) bao gồm hyaluronic acid, D-glucosamine sulphate, chondroitin sulphate, và diacerein. Hiệu quả của các thuốc này chưa rõ ràng, và hướng dẫn điều trị của Hội Thấp khớp Mỹ ACR 2012 đã khuyến cáo không sử dụng hyaluronic acid, D-glucosamine sulphate, chondroitin sulphate trong điều trị thoái khớp.

Nhóm thuốc chế phẩm sinh học ức chế TNF-α và enzyme kháng viêm interleukin IL-4, IL-10, IL-13, TNF-β có tiềm năng làm chậm được tiến triển của bệnh, nhưng còn đang trong vòng nghiên cứu.

Điều trị ngoại khoa chỉ có chỉ định khi triệu chứng lâm sàng không cải thiện với điều trị nội khoa tích cực. Mục đích để sửa chữa các biến dạng của khớp, làm cứng khớp ở tư thế cơ năng, giải ép hoặc cắt bỏ những gai xương khi gai ở một số vị trí đặc biệt, chèn ép vào các bộ phận xung quanh (thần kinh hoặc tủy sống ...). Thay khớp nhân tạo khi khớp bị hư hại nặng, mất chức năng vận động.