Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

Điều trị bệnh viêm khớp



Ở độ tuổi trên 50, sụn trở nên giòn và dễ gãy, các khớp xương mất đi miếng đệm. Vì thế, người cao tuổi có nguy cơ cao mắc các bệnh viêm khớp. Ngoài ra, một số nguyên nhân khác cũng có thể dẫn đến các bệnh về khớp như: di truyền, stress hoặc bệnh nghề nghiệp Các công việc phải mang vác nặng cũng làm tăng nguy cơ bị thấp khớp ở mắt cá chân, đầu gối, hông, xương sống và vùng cổ. Vậy làm thế nào để nhận biết và điều trị ?

Các triệu chứng của bệnh viêm khớp dạng thấp
 
 Cứng khớp buổi sáng, thức dậy không thể vận động được ngay mà phải xoay khớp, xoa bóp chừng 10-15 phút mới có thể hoạt động. Tiếp đến là đau khớp, nhất là các khớp nhỏ như: khớp bàn ngón tay, cổ tay, bàn ngón chân, cổ chân. Các khớp có đặc điểm là viêm đau, có thể sưng nhưng không đỏ lên. Bệnh nhân có hiện tượng đau đối xứng hai bên. Cuối cùng, nếu bàn tay, bàn chân bị biến dạng sau một thời gian đau khớp thì có nghĩa là bệnh đã đến giai đoạn nặng, dần dẫn đến tình trạng dính, biến dạng khớp, thậm chí có thể gây tàn phế.

Đây là bệnh tự miễn nên việc điều trị dứt điểm thường rất khó khăn. Việc điều trị thường kéo dài từ một tháng đến vài năm và có khi là điều trị suốt đời, chủ yếu là làm giảm các đợt đau của bệnh, giảm viêm và sưng các khớp theo chỉ dẫn của bác sĩ. Điều này phụ thuộc khớp bị tổn thương, mức độ bị bệnh, thời gian bệnh. Vì thế người bệnh không thể tự ý chữa trị.

Một số lời khuyên giúp chị giảm và trị bệnh viêm khớp

Lối sống khoẻ mạnh, chế độ ăn tốt cho sức khoẻ và tập luyện thể dục thể thể thao hợp lý, đều đặn giúp giảm nguy cơ mắc bệnh viêm khớp.

Tránh những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần và bố trí thời gian nghỉ ngơi hợp lý để giảm áp lực lên các khớp xương.

Duy trì tập luyện thể thao đều đặn giúp các khớp linh hoạt làm tăng độ chắc khoẻ của các cơ nên giảm áp lực lên các khớp.

Tránh mang vác những vật nặng để giảm nguy cơ viêm khớp vùng lưng, mắt cá chân và đầu gối.
Ăn uống và sinh hoạt điều độ rất tốt cho sức khoẻ và giúp tránh xa bệnh viêm khớp.

Một phương pháp phòng ngừa, điều trị viêm khớp dạng thấp đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân sử dụng là dùng thảo dược có nguồn gốc tự nhiên, không gây tác dụng phụ. Thảo dược Cery (nguồn gốc từ Pháp) có chứa Omega-6 (LA) và chất Antiprostaglandin là chất chống viêm tự nhiên.
Ngoài ra, Cery còn chứa P-xymen, apiol, limonene vốn có tác dụng giảm đau và chống lại co thắt cơ. Hàm lượng canxi lớn trong thảo dược này cũng góp phần làm giãn cơ, nhờ vậy có tác dụng giảm viêm và thoái hóa khớp. Trong đa số các trường hợp, Cery cho hiệu quả điều trị tốt. 

Một số điều cần biết về bệnh thoái hóa khớp cổ chân


Thoái hóa khớp cổ chân là căn bệnh thường xảy ra ở các bệnh nhân có tuổi ngoài 40. Bệnh này tiến triển chậm nhưng lại ảnh hưởng đến các sinh hoạt hằng ngày. Bệnh thoái hoá khớp cổ chân nếu không được điều trị kịp thời sẽ có thể dẫn đến tàn phế. Vì vậy cần phát hiện sớm và có biện pháp điều trị kịp thời.

1.  Nguyên nhân gây ra bệnh thoái hóa khớp cổ chân

Hiện tại, chưa có một nguyên nhân nào chính xác gây ra bệnh này. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng có một số yếu tố liên quan như:
Khớp được sử dụng quá nhiều trong công việc, nhất là trong trường hợp khớp bị biến dạng bẩm sinh hoặc do mắc các bệnh làm thay đổi hình thái khớp xương.
Một số các bệnh viêm khớp mãn tính hủy hoại sụn dẫn tới việc khớp bị thoái hóa ví dụ như các bệnh viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp dạng thấp, bệnh goute…
Nhiều các chấn thương nhỏ ở cổ chân cộng lại do chơi thể thao hoặc bệnh nghề nghiệp khó tránh khỏi như vận động viên điền kinh, cầu thủ bóng chuyền, quần vợt hay bóng đá, khớp cổ chân của diễn viên múa làm mất đi sự cân bằng của khớp và dây chằng.
Người cao tuổi khi bị ngã sẽ rất dễ gây các chấn thương nặng hơn người trẻ tuổi.

2. Các triệu chứng của bệnh thoái hóa khớp cổ chân.

Người bệnh sẽ cảm thấy đau vùng khớp cổ chân khi mắc phải, sau đó là cảm thấy vướng víu khi vận động. Các cơn đau nhói có thể xảy ra bất chợt hay khi gắng sức hoặc ấn vùng khớp cũng như va đập. mức độ các cơn đau dao động từ nhẹ đến nặng, tăng trong quá trình vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Những đau đớn này làm giảm biên độ hoạt động của khớp cổ chân, kéo dài trong một thời gian dài sẽ dẫn tới bệnh teo cơ và trong một số trường hợp còn có thể gây biến dạng xương.
Có thể gây ra các phản ứng viêm như sưng nóng đỏ ở khớp cổ chân, hoặc nặng hơn là tràn dịch khớp kéo theo các cơn đau suốt ngày đêm.

3. Phương pháp điều trị thoái hóa khớp cổ chân

Nếu bệnh nhân bị cảm thấy đau nhức và cần giảm đau, đầu tiên là nên dùng khăn hoặc túi lạnh để chườm, sau đó lại chườm bằng nước nóng. Nếu không có điều kiện, bệnh nhân có thể áp dụng phương pháp xoa, bóp nhẹ nhàng rồi dùng dầu gió hoặc kem deefheat xoa vào khớp làm cho nóng lên.

Nếu thấy khớp cổ chân bị cứng thì bệnh nhân nên tập co, duỗi khớp cổ chân.
Nếu thực hiện các động tác vừa nêu trên một cách đều đặn mà bệnh tình không hề thuyên giảm thì bệnh nhân nên tranh thủ đi khám để được các bác sĩ chỉ định dùng thuốc và cho lời khuyên. Tuyệt đối không được tự động mua thuốc uống hay tiêm vì các loại thuốc được dùng trong việc điều trị thoái hóa khớp cần phải được hiểu rõ cơ chế hoạt động và nhất là hiện tượng xảy ra các tác dụng phụ.

4. Cách phòng tránh bệnh thoái hóa khớp cổ chân

Để hạn chế việc bị thoái hóa khớp cổ chân ở người cao tuổi, bệnh nhân nên có một chế độ sinh hoạt hợp lý về việc ăn uống, đi lại, tập luyện nhưng cũng tùy theo điều kiện và cơ địa của mỗi người.
Để đề phòng bệnh thoái hóa khớp cổ chân, các trung niên ngoài 40 tuổi nên chú ý việc sinh hoạt và kèm theo một chế độ luyện tập nhẹ nhàng, đều đặn như việc chơi thể thao, đi bộ, đi bơi. Hạn chế việc mang vác nặng làm các cơ hoạt động quá sức khiến cho cổ chân phải chịu một khối lượng lớn dễ dẫn đến viêm hoặc thoái hoá khớp.

Khi nghi ngờ mình mắc bệnh về khớp, bệnh nhân cần tranh thủ thời gian đi khám bác sĩ ngay để được tư vấn một cách đúng đắn. Bệnh nhân cũng nên thường xuyên đi khám định kỳ để biết tình trạng khớp của mình và biết cách phòng tránh kịp thời.

Đối với người cao tuổi, cần có sự tập luyện khớp xương cổ chân nhẹ nhàng như: xoay khớp nhẹ nhàng, xoa bóp cổ chân, đi lại trong nhà.

Đi bộ là hình thức tập luyện khá hiệu quả và được đại đa số mọi người thực hiện. Tuy nhiên, bệnh nhân cũng không nên đi quá xa có thể gây mệt mỏi.

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014

Bệnh thoái hóa khớp và hướng điều trị

Theo quy luật tự nhiên, cùng với thời gian, các tế bào sụn khớp sẽ già đi, khả năng tổng hợp chất tạo sụn giảm, rối loạn khiến tính chất đàn hồi và chịu lực yếu. Đây là lý do gây nên bệnh thoái hóa khớp ở người cao tuổi. Vì vậy cần phải đề phòng căn bệnh này ngay từ khi còn trẻ. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn một số thông tin phòng bệnh và hướng điều trị.

Bảo vệ khớp ngay từ khi còn trẻ


Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi ở lứa tuổi ngoài 40, bạn cần tập thể dục đều đặn và cố tránh bị béo phì, tiểu đường. Bởi thường gặp ở những người mắc bệnh này. Bạn cũng nên chú ý tránh những động tác quá mạnh, nhất là động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống.

Rèn luyện thường xuyên rất tốt cho sức khỏe người cao tuổi


Trong chế độ ăn, bạn nên lưu ý những điểm sau: hạn chế đồ uống có cồn, tránh ăn thực phẩm có hàm lượng purin và fuctozo cao như cá trích, thịt gia súc, gan và thịt lợn muối, các món ăn dễ làm tăng mỡ trong máu gồm thịt mỡ, bơ, xúc xích... Trái lại, bạn nên ăn bổ sung thêm thực phẩm có chứa acid omega -3, giàu vitamin và khoáng chất...
Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động, bạn phải điều trị ngay. Trước đây người ta chủ yếu dùng các thuốc giảm đau, chống viêm giảm đau để làm giảm triệu chứng đau và viêm cho người bệnh. Điều đó là chữa triệu chứng chứ chưa phải chữa nguyên nhân gây bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ, có những loại thuốc chữa bệnh tận gốc chứ không dừng lại ở chữa triệu chứng.

Giải pháp cho bệnh thoái hóa khớp hiện nay


 Hiện nay, xu hướng đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng lựa chọn là dùng các loại thuốc thảo dược đắp ngoài da để điều trị thoái hóa khớp. So với các thuốc thường dùng trong điều trị thoái hóa khớp qua đường uống hoặc tiêm (nhóm thuốc giảm đau chống viêm không steroid, nhóm corticoid,...) thì thuốc thảo dược đắp ngoài da cũng có tác dụng giảm sưng, giảm đau tương tự nhưng không gây tác dụng phụ toàn thân như: loét dạ dày, loãng xương, suy gan, thận… khi dùng lâu dài. Trong trường hợp nặng, việc dùng thuốc đắp ngoài da cũng ít tốn kém hơn so với biện pháp phẫu thuật hoặc thay khớp, đồng thời vẫn có tác dụng giảm đau nhanh, mạnh và bền vững.

 Sản phẩm nổi bật cho xu hướng trên và đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học hiện nay là thuốc đắp ngoài Cốt Thống Linh. Với thành phần chính là cây ô đầu (Vân Nam, Trung Quốc) có tác dụng giảm đau, chống viêm kết hợp cùng nhiều thảo dược khác như: huyết kiệt, nhũ hương, băng phiến,… Cốt Thống Linh giúp lưu thông máu, giãn mao mạch, giảm sưng, giảm đau nhanh, điều trị thoái hóa khớp hiệu quả. Do có thành phần là thảo dược và dưới dạng thuốc đắp ngoài da nên Cốt Thống Linh đã khắc phục được hầu hết những nhược điểm của các thuốc điều trị thoái hóa khớp nguồn gốc hóa dược.

 Theo các chuyên gia, bên cạnh việc duy trì dùng thuốc đắp ngoài Cốt Thống Linh, người bệnh cần tập luyện, vận động đúng mức, giữ cân nặng hợp lý và tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ để đẩy lùi những cơn đau, làm chậm sự tiến triển của thoái hóa khớp.




Sưu tầm bởi bệnh viện fv

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

Điều trị bàn chân khoèo ở trẻ em

 Bàn chân khòe là một dị tật bẩm sinh, có tính di truyền, hay gặp nhất ở trẻ em. Nếu trẻ gặp phải tình trạng này thì nên đưa đến các bệnh viện chấn thương chỉnh hình để điều trị càng sớm càng tốt. Trên thế giới, cứ 1000 trẻ được sinh ra thì có một trẻ bị dị tật bàn chân khòeo. Tại Việt Nam, dị tật bàn chân khoèo gặp rất phổ biến, đặc biệt trẻ em ở các tỉnh vùng cao. Biến dạng điển hình của bàn chân khoèo là: phần trước bàn chân bị khép; gót và phần sau bàn chân vẹo trong; bàn chân duỗi đổ kiểu bàn chân ngựa; vòm gan chân lõm.

1. Nguyên nhân: chưa rõ ràng, có nhiều giả thuyết

Bất thường về gen => mang tính di truyền.

Tư thế bàn chân thời kỳ bào thai bất thường.

Đột biến nhiễm sắc thể: trẻ bị cứng đa khớp bẩm sinh (bàn chân khoèo, cứng khớp gối, cứng khớp khuỷu, cứng khớp vai, trật khớp háng…).

Bất thường về cấu trúc xương bàn chân, về thần kinh chi phối bàn chân…

2. Lâm sàng.

Ngay mới sinh, bàn chân biến dạng: nửa sau bàn chân duỗi đổ và lật ngửa vào trong. Teo cơ vùng bắp chân. Ba biến dạng cơ bản của bàn chân khoèo là bàn chân duỗi đổ, vẹo trong và khép.

Da bàn chân thường căng mỏng ở phía gan chân, dầy lên ở phía bờ ngoài và mu chân.

Khi dị tật hai chân thì biến dạng ít khi giống nhau. Khi đứa trẻ lớn lên sẽ đi bằng bờ ngoài của bàn chân, tỳ lên thân và nền đốt bàn 5, bị nặng trẻ đi bằng mu chân. Chỗ tỳ mới sẽ dày lên thành chai sẹo và có tùi nhầy. Khi đi, chân bị xoay ngoài.

3. Dấu hiệu trên X quang.

Trên phim chụp bàn chân thẳng và nghiêng, tập trung vào xương sên và xương gót cho biết mức độ nặng của bệnh.

Trên phim thẳng và phim nghiêng thấy trục dọc của xương sên và xương gót song song hoặc xu thế song song với nhau (bình thường hai trục này tạo một góc 30-35 độ mở ra trước khi chụp thẳng và 20 độ khi chụp nghiêng).

Ngoài ra còn thấy trật nhẹ khớp sên gót, sên thuyền, thân xương sên duỗi đổ. Nếu biến dạng lâu năm, xương đốt bàn cong vẹo vào trong.

4. Điều trị

Mục đích của điều trị không phải là hình dáng bên ngoài của bàn chân mà là lập lại quan hệ bình thường về xương

Điều trị bàn chân khòeo theo từng giai đoạn, phụ thuộc vào tuổi

• Điều trị bảo tồn:

Đối với trẻ sơ sinh và cho con bú: nắn ngay sau khi trẻ chào đời

Nắn chỉnh (bớt ngửa, bớt đổ) và bó bột dưới gối. Mỗi ngày chỉnh một ít và thay bột trong tuần đầu, những tuần sau thưa dần. Không để bột quá 15 ngày vì trẻ còn lớn. Khi trẻ lớn lên cho đi dày chỉnh hình.

• Mổ chỉnh hình: Chỉ định khi điều trì bảo tồn thất bại. Thời điểm mổ: tối thiểu trẻ trên 3 tháng tuổi, nặng trên 6kg.

Các thủ thuật can thiệp trên phân mền, bao gồm:

‒ Kép dài gân Achille

‒ Giải phóng bao khớp chầy sên và sên gót.

‒ Kéo dài gân gấp ngón cái, cắt gân gấp các ngón

‒ Cắt cân gan chân

‒ Chuyển gân

Sau thủ thuật, bó bột trong thời gian 3-4 tuần

Các phẫu thuật can thiệp trên xương:

Trong trường hợp biến dạng nặng, can thiệp phần mềm chưa đủ, cần can thiệp cả phần xương.
Nên can thiệp về xương khi trẻ lớn trên 12 tuổi.

‒ Nạo xương xốp ở xương sên

‒ Đục hình chêm cổ xương sên

‒ Đục hình chêm mắt cá ngoài và xương gót

‒ Đục hình chêm nền các đốt bàn

‒ Đục hình chêm qua khớp gót hộp và sên thuyền

‒ Đục xương chữa xoay xương chầy


Sau đục xương cố định bằng đinh Kirschner, và bó bột trong vòng 5-6 tháng.

Sưu tầm bởi các bác sỹ từ Bệnh viện FV

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Bệnh thoái hóa khớp vai và cách khắc phục



Bệnh thoái hóa khớp vai gây nhiều khó chịu và ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của người bệnh, cần đi khám để phát hiện và điều trị sớm để tránh những tổn thương nghiêm trọng khác.

1. Cấu tạo của khớp vai

Khớp vai bao gồm 5 khớp nhỏ : khớp vai chính, khớp mỏm cùng cánh tay, khớp mỏm cùng xương đòn, khớp ức đòn và cuối cùng là khớp bả vai- lồng ngực.

Khớp vai liên kết các rễ thần kinh ở vùng cổ với phần trên lưng cũng như liên quan tới các hạch giao cảm cổ. Khi vùng đốt sống cổ, lồng ngực hay vùng trung thất bị tổn thương có thể gây ra các bệnh ở khớp vai như: co thắt bao khớp, viêm bao khớp, viêm gân sẽ gây đau đớn cũng như sẽ hạn chế các vận động ở khớp vai.

 Chóp xoay gồm có 4 loại gân bao quanh khớp vai giúp vai có khả năng vận động. Các gân này rất dễ bị viêm, gây đau ở những người trong độ tuổi trung niên và cao niên. Nguyên nhân được xác định là do thoái hoá hay thiếu máu nuôi và cả việc sữ dụng cánh tay quá nhiều. Nhất là các sợi gân trên và dưới gai có vùng thiểu dưỡng rất dễ bị rách và viêm có thể kéo theo bị viêm khoang dưới mỏm cùng vai. Thoái hoá khớp vai là do bệnh viêm khớp, phong thấp hay loãng xương.

2. Triệu chứng thoái hoá khớp vai

Nguyên nhân gây ra việc đau bả vai và lan tới cả bàn tay hay thậm chí là ngón tay là do đốt sống cổ bị thoái hoá. Triệu chứng là đau nhiều lúc về đêm hay đau nếu tư thế ngủ nằm nghiêng bên vai bị đau, đau khi giơ thẳng tay lên trời hay cũng có thể đau 1 khoảnh khắc nào đó khi hoạt động tay nhưng sau đó lại hết.

Việc đi khám ở Bệnh viện FV có thể giúp bệnh nhân xác định được các tổn thương, viêm hoặc bị rách chóp xoay và các bác sĩ có thể đánh giá được sức cơ khi khám. Chụp X quang có thể giúp bệnh nhân xem được các gai xương ở mỏm cùng vai. Việc chụp MRI có thể chẩn đoán được chính xác tình trạng rách gân hay viêm.

 3. Phương pháp khắc phục thoái hoá khớp vai

Khi gân chỉ bị viêm, bệnh nhân có thể chọn phương pháp điều trị bằng thuốc hoặc có thể sử dụng biện pháp vật lý trị liệu. Còn nếu gân bị đứt hoàn toàn thì việc điều trị nội khoa khả năng thành công là rất thấp. bệnh nhân cần phải đi khâu lại để có thể hồi phục sức cơ càng sớm càng tốt để không bị rơi vào trường hợp thoái hoá mỡ ở cơ do gân không hoạt động được vì bị đứt.

Hiện nay, việc khâu gân chóp xoay đã được thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp nội soi. Phương pháp này giúp bệnh nhân cảm thấy ít đau đớn hơn sau khi mổ cũng như việc hồi phục cũng nhanh chóng hơn. Lượng sụn và dịch ở khớp giảm nhiều khiến cho hai đầu xương tại khớp sẽ tiếp xúc nhau khi vận động sẽ gây ra các chứng viêm khớp, đau khớp và cuối cùng là dẫn đến thoái hoá khớp. người bị thoái hoá khớp vai cần phải bổ sung lượng dịch trong khớp đồng thời tái tạo lượng sụn cần thiết cho khớp là cách tốt nhất để giải quyết tận gốc bệnh thoái hoá khớp vai.

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Nguyên nhân của bệnh đau khớp gối

Trong chúng ta hầu hết ai cũng từng bị đau khớp gối, đây là căn bệnh phổ biến ở mọi lứa tuổi. Bệnh xảy ra khi có những thương tổn ở vùng đầu gối khiến các cơ xương khớp vùng đầu gối không thể hoạt động bình thường. Mặc dù là căn bệnh phổ biến nhưng liệu bạn có hiểu biết đúng về căn bệnh này hay chưa ?

Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đau khớp gối

Đau khớp gối có thể được gây ra bởi chấn thương, các vấn đề cơ khí, các loại viêm khớp và các vấn đề khác.

1. Do chấn thương

Một chấn thương đầu gối có thể ảnh hưởng đến bất kỳ các dây chằng, gân hoặc túi chứa đầy dịch (bursae) bao quanh khớp gối cũng như xương sụn và dây chằng các khớp riêng. Một số chấn thương đầu gối thường bao gồm:

ACL chấn thương : Chấn thương ACL là rách dây chằng cruciate trước (ACL) – một trong bốn dây chằng nối xương ống quyển đến xương đùi. Chấn thương ACL là đặc biệt phổ biến ở những người chơi bóng rổ hoặc đi trượt tuyết, bởi vì nó liên quan đến thay đổi đột ngột về hướng.

Rách sụn chêm (torn meniscus) : Sụn này được hình thành và hoạt động như một chất hấp thụ sốc giữa xương ống quyển và xương đùi. Nó có thể bị rách nếu đột nhiên xoay đầu gối trong khi mang trọng lượng trên nó.

Viêm bao hoạt dịch đầu gối (bursae):  Một số chấn thương đầu gối gây viêm ở bursae, các túi nhỏ của chất lỏng bên ngoài của đệm đầu gối để liên gân và dây chằng trượt trơn tru trên các khớp.

Viêm gân bánh chè:  Viêm gân là kích ứng và viêm của một hoặc nhiều dây chằng, dày sợi có gắn cơ bắp đến xương. Trượt tuyết và đi xe đạp dễ bị viêm gân bánh chè, nối các cơ bốn đầu trên mặt trước của đùi để xương ống quyển.

2. Các nguyên nhân khác

Vỡ xương, sụn. Đôi khi chấn thương hoặc thoái hóa của xương hoặc sụn có thể gây ra một mảnh xương hay sụn vỡ ra và trôi nổi trong không gian chung. Điều này có thể tạo ra bất kỳ vấn đề, trừ khi cơ thể mất cản trở chuyển động khớp gối.

Hạn chế khớp gối. Điều này có thể xảy ra từ một sụn rách. Khi một phần sụn vỡ bên trong khớp gối, không thể thẳng hết đầu gối.

Trật khớp xương bánh chè. Điều này xảy ra khi xương hình tam giác (xương bánh chè) bao gồm mặt trước của đầu gối phiếu trên, thường ra bên ngoài của đầu gối. Có thể xem lệch mạng và xương bánh chè có thể di chuyển quá nhiều từ phía bên.

Hông hay đau chân. Nếu có hông hay đau chân, có thể thay đổi cách đi bộ để phụ tùng các khớp đau đớn. Nhưng điều này thay đổi dáng đi có thể cản trở sự liên kết của xương bánh chè và diễn ra căng thẳng hơn vào khớp gối. Trong một số trường hợp, vấn đề ở hông hay bàn chân có thể đau đến đầu gối.