Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

Viêm khớp và một số điều cần lưu ý



Viêm khớp là tình trạng viêm của một hoặc nhiều khớp xương, chẳng hạn như một hoặc cả hai đầu gối hoặc cổ tay, hoặc một phần của cột sống. Hai loại thường gặp nhất của viêm khớp là viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp. Đau khớp và cứng khớp là các triệu chứng chính của viêm khớp.

Nguyên nhân

Những đau đớn liên kết với viêm khớp gây ra bởi tổn thương chung. Khớp được tạo nên từ các phần sau đây:

Sụn. Lớp phủ vào đầu của xương, sụn cho phép xương của khớp chuyển động trơn tru.
Liên nang. Màng bao quanh tất cả các phần chung.

Màng hoạt dịch. Màng mỏng này tiết ra chất lỏng hoạt dịch bôi trơn khớp.

Hai loại chính của các thiệt hại khớp viêm theo những cách khác nhau:

Viêm xương khớp. Trong viêm xương khớp, thiệt hại cho sụn có thể dẫn đến xương mài trực tiếp trên xương, gây đau đớn và hạn chế vận dộng. Hao mòn này có thể xảy ra trong nhiều năm, hoặc nó có thể được đẩy nhanh hơn bởi một chấn thương khớp hoặc nhiễm trùng.

Viêm khớp dạng thấp. Trong viêm khớp dạng thấp, hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công các khớp và viêm sưng tấy màng hoạt dịch, gây sưng, tấy đỏ và đau khớp. Cuối cùng bệnh có thể phá hủy sụn và xương trong khớp.

Phương pháp điều trị và thuốc

Viêm khớp điều trị tập trung vào làm giảm triệu chứng và cải thiện chức năng khớp. Có thể cần phải thử phương pháp điều trị khác nhau, hoặc kết hợp các phương pháp điều trị, trước khi xác định những gì tốt nhất.

Các thuốc dùng để điều trị viêm khớp khác nhau, tùy thuộc vào loại viêm khớp.

Thông thường thuốc viêm khớp được sử dụng bao gồm:

Thuốc giảm đau. Những loại thuốc giúp giảm đau, nhưng không có hiệu lực từ ngày viêm. Ví dụ như acetaminophen, tramadol và chất ma tuý như oxycodon và hydrocodon.

Thuốc kích thích. Một số loại kem và thuốc mỡ có chứa một chất như tinh dầu bạc hà hoặc capsaicin, các thành phần mà làm cho nóng. Các chế phẩm cọ xát trên da trên cổ có thể gây trở ngại cho việc truyền tín hiệu đau từ các khớp.

Kháng viêm không steroid (NSAIDs). NSAID giảm đau và viêm, bao gồm aspirin, ibuprofen và naproxen. Một số loại NSAIDs chỉ dẫn theo toa. NSAIDs uống có thể gây kích ứng dạ dày, và một số có thể làm tăng nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ. Một số NSAIDs cũng có sẵn như các loại kem hay gel, có thể được cọ xát vào vùng khớp.

Ức chế miễn dịch (DMARDs). Thường được sử dụng để điều trị viêm khớp dạng thấp, DMARDs chậm hoặc ngừng hệ thống miễn dịch từ tấn công khớp. Ví dụ như methotrexate và hydroxychloroquine.

Bổ sinh học. Thông thường sử dụng cùng với DMARDs, sinh học bổ ứng phó biến đổi gen của loại thuốc ức chế hệ miễn dịch. Ví dụ như TNF blockers như etanercept và infliximab.

Corticosteroid. Bao gồm prednisone và cortisone, làm giảm viêm và ngăn chặn hệ miễn dịch. Corticosteroid có thể được dùng qua đường miệng hoặc được tiêm trực tiếp vào khớp đau.

Các phương pháp điều trị 

Liệu Pháp. Vật lý trị liệu có thể hữu ích cho một số loại viêm khớp. Các bài tập có thể cải thiện tầm vận động và củng cố các cơ bắp xung quanh khớp. Trong một số trường hợp, nẹp hoặc mang niềng răng có thể được dùng.

Phẫu thuật. Nếu các biện pháp trên không tạo chuyển biến tích cực, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật, chẳng hạn như:

Loại bỏ màng hoạt dịch (synovectomy). Viêm khớp dạng thấp gây ra các nang lót - được gọi là màng hoạt dịch (synovium) bị sưng tấy - đặc biệt là ở các cổ tay, bàn tay và ngón tay. Loại bỏ các synovium có thể làm chậm suy giảm khớp.

Thay thế khớp. Thủ tục này loại bỏ các hư hỏng chung và thay thế nó bằng một khớp nhân tạo. Khớp nối thay thế phổ biến nhất là là hông và đầu gối.

Hợp nhất khớp. Phương pháp này là thường xuyên hơn được sử dụng cho các khớp nhỏ hơn, chẳng hạn như khớp cổ tay, mắt cá chân và ngón tay. Nó loại bỏ các kết thúc của hai xương trong ổ và sau đó kết nối với nhau cho đến khi nó chữa lành thành một đơn vị cứng nhắc.

Sưu tầm bởi benh vien fv 

Cách ngăn ngừa thoái hóa khớp



Ðiểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là 10 biện pháp được các nhà chuyên môn đề nghị:

1. Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp

Khi bạn càng béo, sức nặng đè lên khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối và bàn chân.

2. Siêng vận động

Luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Ðó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương trong vận động.

3. Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng

Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa, vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

4. Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng

Khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay là khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân.

5. Giữ nhịp sống thoải mái

Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

6. Phải biết "lắng nghe" cơ thể

Cơ thể chúng ta có cơ chế báo động rất tuyệt vời. Khi có vấn đề nó sẽ báo động ngay cho bạn. Trong đó đau là dấu hiệu báo động chủ yếu. Phải ngưng ngay lập tức các vận động nếu chúng gây đau.

7. Thay đổi tư thế thường xuyên

Nên thường xuyên thay đổi các tư thế sinh hoạt. Tránh nằm lâu, ngồi lâu, đứng lâu một chỗ vì sẽ làm ứ trệ tuần hoàn và gây cứng khớp. Có thể đây là yếu tố chính yếu gây ra thoái hóa khớp do nghề nghiệp, nhất là ở những người lao động trí óc.

8. Sự luyện tập "như một chiến binh" sẽ làm hại bạn

Khi khớp của bạn có vấn đề, lời khuyên nên vận động của bác sĩ có thể được bạn hăng hái thực hiện một cách quá mức. Nguyên nhân thường là nỗi lo sợ thầm kín báo hiệu tuổi già của những người thành đạt trong cuộc sống, là sự âu lo nếu bạn là trụ cột của gia đình. Những lý do này khiến bạn vội vã lao vào tập luyện như những người lính cứu hỏa dập tắt đám cháy. Tuy nhiên điều này không thể áp dụng cho tổn thương khớp. Do sụn khớp phải trải qua một thời gian dài tác động mới bị hư hỏng (thoái hóa), vì vậy khi bạn cảm thấy đau nghĩa là nó đã hư khá nặng. Sự nghỉ ngơi sẽ làm ngừng gia tăng mức độ tổn thương. Còn sự vận động sẽ giúp nó phục hồi nhưng cần phải tăng dần cường độ. Nếu bạn quá gắng sức hay nóng nảy trong luyện tập để đốt giai đoạn, thì vô tình sẽ làm chết lớp sụn mới còn non yếu do các lực tác động quá mức của chính mình. Nên bắt đầu bằng những động tác nhẹ nhàng và chậm rãi, sau đó mới tăng dần lên tùy vào sự phản ứng của cơ thể.

9. Bảo vệ cơ thể trước những bất trắc trong sinh hoạt

Khi ra khỏi nhà, bạn nên cẩn thận chuẩn bị những dụng cụ bảo vệ cổ tay và khớp gối, nhằm đề phòng những tình huống bất ngờ có thể làm bạn bị chấn thương.

10. Ðừng ngại ngần khi có yêu cầu trợ giúp

Bạn không nên cố gắng làm một việc gì đó quá sức của mình. Nếu cảm thấy khó khăn, nên nhờ người khác trợ giúp. Mang vác hay xách một vật nặng có thể làm bạn đau nhức kéo dài nhiều ngày. Tình trạng đau nhức này thể hiện sự tổn thương của cơ thể. Từ những lỗ nhỏ có thể phát triển thành những sang thương lớn hơn trên mặt sụn khớp.

Theo benh vien fv 

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

Điều trị bệnh viêm khớp



Ở độ tuổi trên 50, sụn trở nên giòn và dễ gãy, các khớp xương mất đi miếng đệm. Vì thế, người cao tuổi có nguy cơ cao mắc các bệnh viêm khớp. Ngoài ra, một số nguyên nhân khác cũng có thể dẫn đến các bệnh về khớp như: di truyền, stress hoặc bệnh nghề nghiệp Các công việc phải mang vác nặng cũng làm tăng nguy cơ bị thấp khớp ở mắt cá chân, đầu gối, hông, xương sống và vùng cổ. Vậy làm thế nào để nhận biết và điều trị ?

Các triệu chứng của bệnh viêm khớp dạng thấp
 
 Cứng khớp buổi sáng, thức dậy không thể vận động được ngay mà phải xoay khớp, xoa bóp chừng 10-15 phút mới có thể hoạt động. Tiếp đến là đau khớp, nhất là các khớp nhỏ như: khớp bàn ngón tay, cổ tay, bàn ngón chân, cổ chân. Các khớp có đặc điểm là viêm đau, có thể sưng nhưng không đỏ lên. Bệnh nhân có hiện tượng đau đối xứng hai bên. Cuối cùng, nếu bàn tay, bàn chân bị biến dạng sau một thời gian đau khớp thì có nghĩa là bệnh đã đến giai đoạn nặng, dần dẫn đến tình trạng dính, biến dạng khớp, thậm chí có thể gây tàn phế.

Đây là bệnh tự miễn nên việc điều trị dứt điểm thường rất khó khăn. Việc điều trị thường kéo dài từ một tháng đến vài năm và có khi là điều trị suốt đời, chủ yếu là làm giảm các đợt đau của bệnh, giảm viêm và sưng các khớp theo chỉ dẫn của bác sĩ. Điều này phụ thuộc khớp bị tổn thương, mức độ bị bệnh, thời gian bệnh. Vì thế người bệnh không thể tự ý chữa trị.

Một số lời khuyên giúp chị giảm và trị bệnh viêm khớp

Lối sống khoẻ mạnh, chế độ ăn tốt cho sức khoẻ và tập luyện thể dục thể thể thao hợp lý, đều đặn giúp giảm nguy cơ mắc bệnh viêm khớp.

Tránh những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần và bố trí thời gian nghỉ ngơi hợp lý để giảm áp lực lên các khớp xương.

Duy trì tập luyện thể thao đều đặn giúp các khớp linh hoạt làm tăng độ chắc khoẻ của các cơ nên giảm áp lực lên các khớp.

Tránh mang vác những vật nặng để giảm nguy cơ viêm khớp vùng lưng, mắt cá chân và đầu gối.
Ăn uống và sinh hoạt điều độ rất tốt cho sức khoẻ và giúp tránh xa bệnh viêm khớp.

Một phương pháp phòng ngừa, điều trị viêm khớp dạng thấp đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân sử dụng là dùng thảo dược có nguồn gốc tự nhiên, không gây tác dụng phụ. Thảo dược Cery (nguồn gốc từ Pháp) có chứa Omega-6 (LA) và chất Antiprostaglandin là chất chống viêm tự nhiên.
Ngoài ra, Cery còn chứa P-xymen, apiol, limonene vốn có tác dụng giảm đau và chống lại co thắt cơ. Hàm lượng canxi lớn trong thảo dược này cũng góp phần làm giãn cơ, nhờ vậy có tác dụng giảm viêm và thoái hóa khớp. Trong đa số các trường hợp, Cery cho hiệu quả điều trị tốt. 

Một số điều cần biết về bệnh thoái hóa khớp cổ chân


Thoái hóa khớp cổ chân là căn bệnh thường xảy ra ở các bệnh nhân có tuổi ngoài 40. Bệnh này tiến triển chậm nhưng lại ảnh hưởng đến các sinh hoạt hằng ngày. Bệnh thoái hoá khớp cổ chân nếu không được điều trị kịp thời sẽ có thể dẫn đến tàn phế. Vì vậy cần phát hiện sớm và có biện pháp điều trị kịp thời.

1.  Nguyên nhân gây ra bệnh thoái hóa khớp cổ chân

Hiện tại, chưa có một nguyên nhân nào chính xác gây ra bệnh này. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng có một số yếu tố liên quan như:
Khớp được sử dụng quá nhiều trong công việc, nhất là trong trường hợp khớp bị biến dạng bẩm sinh hoặc do mắc các bệnh làm thay đổi hình thái khớp xương.
Một số các bệnh viêm khớp mãn tính hủy hoại sụn dẫn tới việc khớp bị thoái hóa ví dụ như các bệnh viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp dạng thấp, bệnh goute…
Nhiều các chấn thương nhỏ ở cổ chân cộng lại do chơi thể thao hoặc bệnh nghề nghiệp khó tránh khỏi như vận động viên điền kinh, cầu thủ bóng chuyền, quần vợt hay bóng đá, khớp cổ chân của diễn viên múa làm mất đi sự cân bằng của khớp và dây chằng.
Người cao tuổi khi bị ngã sẽ rất dễ gây các chấn thương nặng hơn người trẻ tuổi.

2. Các triệu chứng của bệnh thoái hóa khớp cổ chân.

Người bệnh sẽ cảm thấy đau vùng khớp cổ chân khi mắc phải, sau đó là cảm thấy vướng víu khi vận động. Các cơn đau nhói có thể xảy ra bất chợt hay khi gắng sức hoặc ấn vùng khớp cũng như va đập. mức độ các cơn đau dao động từ nhẹ đến nặng, tăng trong quá trình vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Những đau đớn này làm giảm biên độ hoạt động của khớp cổ chân, kéo dài trong một thời gian dài sẽ dẫn tới bệnh teo cơ và trong một số trường hợp còn có thể gây biến dạng xương.
Có thể gây ra các phản ứng viêm như sưng nóng đỏ ở khớp cổ chân, hoặc nặng hơn là tràn dịch khớp kéo theo các cơn đau suốt ngày đêm.

3. Phương pháp điều trị thoái hóa khớp cổ chân

Nếu bệnh nhân bị cảm thấy đau nhức và cần giảm đau, đầu tiên là nên dùng khăn hoặc túi lạnh để chườm, sau đó lại chườm bằng nước nóng. Nếu không có điều kiện, bệnh nhân có thể áp dụng phương pháp xoa, bóp nhẹ nhàng rồi dùng dầu gió hoặc kem deefheat xoa vào khớp làm cho nóng lên.

Nếu thấy khớp cổ chân bị cứng thì bệnh nhân nên tập co, duỗi khớp cổ chân.
Nếu thực hiện các động tác vừa nêu trên một cách đều đặn mà bệnh tình không hề thuyên giảm thì bệnh nhân nên tranh thủ đi khám để được các bác sĩ chỉ định dùng thuốc và cho lời khuyên. Tuyệt đối không được tự động mua thuốc uống hay tiêm vì các loại thuốc được dùng trong việc điều trị thoái hóa khớp cần phải được hiểu rõ cơ chế hoạt động và nhất là hiện tượng xảy ra các tác dụng phụ.

4. Cách phòng tránh bệnh thoái hóa khớp cổ chân

Để hạn chế việc bị thoái hóa khớp cổ chân ở người cao tuổi, bệnh nhân nên có một chế độ sinh hoạt hợp lý về việc ăn uống, đi lại, tập luyện nhưng cũng tùy theo điều kiện và cơ địa của mỗi người.
Để đề phòng bệnh thoái hóa khớp cổ chân, các trung niên ngoài 40 tuổi nên chú ý việc sinh hoạt và kèm theo một chế độ luyện tập nhẹ nhàng, đều đặn như việc chơi thể thao, đi bộ, đi bơi. Hạn chế việc mang vác nặng làm các cơ hoạt động quá sức khiến cho cổ chân phải chịu một khối lượng lớn dễ dẫn đến viêm hoặc thoái hoá khớp.

Khi nghi ngờ mình mắc bệnh về khớp, bệnh nhân cần tranh thủ thời gian đi khám bác sĩ ngay để được tư vấn một cách đúng đắn. Bệnh nhân cũng nên thường xuyên đi khám định kỳ để biết tình trạng khớp của mình và biết cách phòng tránh kịp thời.

Đối với người cao tuổi, cần có sự tập luyện khớp xương cổ chân nhẹ nhàng như: xoay khớp nhẹ nhàng, xoa bóp cổ chân, đi lại trong nhà.

Đi bộ là hình thức tập luyện khá hiệu quả và được đại đa số mọi người thực hiện. Tuy nhiên, bệnh nhân cũng không nên đi quá xa có thể gây mệt mỏi.